Investment Thesis - Triết lý đầu tư liệu bạn đã nghe qua?

Đã cập nhật: 16 thg 2



Hôm nay là một ngày quan trọng, đó là một nhà đầu tư lớn và bạn sẽ phải thể hiện, đàm phán với tất cả những gì mình có trước họ. Bạn đã chuẩn bị rất kĩ cho ngày này; từ bản kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng vốn cho đến kịch bản thuyết trình sao cho thật mượt mà. Ấy thế nhưng những gì nhận được vẫn là sự từ chối và những cái lắc đầu. Hiển nhiên ở đây có nhiều yếu tố cần cân nhắc, tuy nhiên một trong những lí do đằng sau có thể bạn chưa để ý tới chính là liệu đấy có phải là một nhà đầu tư phù hợp để gọi vốn hay không. Hay nói rõ hơn, liệu doanh nghiệp và mô hình kinh doanh của bạn có phù hợp với triết lý đầu tư (investment thesis) của quỹ mà bạn đang gọi vốn không.



1. VẬY TRIẾT LÝ ĐẦU TƯ LÀ GÌ?

Trên thực tế, các quỹ đầu tư đều có triết lý đầu tư, thuật ngữ này có thể được diễn giải là những lập luận hợp lí cho một chiến lược đầu tư cụ thể, được hỗ trợ bởi nghiên cứu và phân tích. Từ đấy có thể họ sẽ đưa ra những gạch đầu dòng thể hiện cách thức mà họ rót vốn và sử dụng nguồn tiền của quỹ. Chính vì vậy, cho dù công ty của bạn hứa hẹn tới đâu, nhưng một khi đã nằm ngoài những gạch đầu dòng trong triết lý đầu tư của quỹ, rất ít khả năng họ sẽ chi tiền ra. Ngắn gọn hơn, "triết lý đầu tư" chính là hệ thống những lập luận dẫn đến những "tiêu chí đầu tư" (investment criteria).

Nếu bạn nằm ngoài "triết lý đầu tư" của quỹ, vẫn có khả năng họ cân nhắc trong việc rót vốn nếu đó là một thương vụ cực kỳ hứa hẹn. Tuy nhiên, hãy nhớ một điều, những "triết lý đầu tư" cũng chính là một trong những công cụ mà các quỹ dùng để gọi vốn từ các thành viên trách nhiệ



m hữu hạn (Limited Partner - LP) của mình. Trong trường hợp các quỹ chi một khoản vốn đáng kể cho các startups nằm ngoài những triết lý đã đề ra, các LP có khả năng sẽ ái ngại và vơi bớt niềm tin khi góp vốn vào quỹ sau đó.


2. VẬY VÌ SAO CÁC VC LẠI CẦN TRIẾT LÝ ĐẦU TƯ?

Triết lý đầu tư đối với các VC thường cũng sẽ là chiến lược đem tiền về cho các nhà đầu tư của quỹ. Các triết lý này thường có thể được xác định dựa trên sự khác biệt đặc thù của VC hay cách mà các quỹ tập trung nguồn vốn để đầu tư vào các startups ở các giai đoạn xác định, ở những khu vực địa lý nhất định...

Từ những triết lý đầu tư đã đề ra, các VC không chỉ hình thành định hướng cho các hoạt động của mình mà còn có thể tạo sức hút nhằm kéo thêm các LP tham dự quỹ. Đa số các LP đều có tiêu chí đầu tư cho riêng mình khi phân b


ổ nguồn vốn, thế nên nếu họ thấy một triết lý đầu tư hấp dẫn, họ sẽ có thêm cơ sở để cân nhắc rót vốn vào.


3. MỘT SỐ TRIẾT LÝ ĐẦU TƯ ĐIỂN HÌNH.

Các VC có thể có một hoặc tổng hợp nhiều triết lý, với tính chất và định lượng tùy biến, và thường sẽ là các loại hình quỹ sau:

- Quỹ ngành (Industry Funds): Các quỹ ngành tập trung đầu tư vào một ngành công nghiệp cụ thể nào đó hoặc một thành phần nào đó của nền kinh tế, như các ngành kỹ thuật, chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ tài chính. Đó những ngành có tính bất ổn cao nhưng cũng có tính đột biến không thể đo đếm được, từ đó hứa hẹn đem đến cơ hội cho các nhà đầu tư khoản lợi n


huận đáng kể. Mặc dù vậy, thường thì một ngành phát triển "nóng" trong một năm nào đó sẽ phát triển chậm lại trong năm tiếp theo.

Dữ liệu từ OpenVC cho thấy các VC thường tập trung vào mảng công nghệ. Đầu tư vào phần mềm cho đến nay vẫn chiếm tỉ trọng nhiều nhất, với 94% VC đầu tư vào nó. Deep tech xếp sau ở vị trí thứ hai với 57%. Bên cạnh đó, mảng phần cứng và ứng dụng công nghệ vào y tế trị liệu đang bị tụt lại phía sau.

- Quỹ đầu tư vào các mô hình kinh doanh (Business model-defined funds): Một ví dụ cho trường hợp này là Point Nine Capital, quỹ tập trung vào các công ty B2B SaaS và Marketplace ở giai đoạn hạt giống trải khắp các ngành khác nhau. Các quỹ này đôi khi cũng nhắm tới các startups phục vụ một đối tượng khách hàng cụ thể (ví dụ: B2B hoặc B2C) với mô hình kinh doanh tương thích.

- Quỹ đầu tư vào khu vực địa lý xác định (Geography-defined funds): Những quỹ này thường có 2 trường phái:



  1. Những VC đầu tư vào khu vực địa lý cụ thể: về cơ bản những quỹ này sẽ chỉ đầu tư vào những vùng lãnh thổ hoặc khu vực nhất định, ví dụ một quỹ tên Reel Venture đầu tư 80% nguồn vốn vào khu vực Canada.

  2. Các VC rót vốn đầu tư ra nước ngoài hoặc vào các doanh nghiệp hoạt động ở hai quốc gia trở lên, có nền tảng công nghệ ở thị trường cấp 2 hoặc cấp 3 và triển khai sales/ marketing ở thị trường cấp 1. Dữ liệu từ OpenVC cho thấy 75% quỹ đầu tư hoạt động trên nhiều hơn 1 quốc gia.

- Quỹ đầu tư vào những nhà khởi nghiệp (Entrepreneur-defined funds): Những quỹ này sẽ thường tập trung vào những triết lý quản lý nhất định hoặc những loại hình nhà khởi nghiệp nhất định. Ví dụ như Diaspora Ventures sẽ hướng đến đầu tư vào những founder là thế hệ người Pháp đang khởi nghiệp công nghệ trên đất Mỹ; những quỹ như Female Founders Fund, AmplifyHer Ventures, Halogen Ventures sẽ có xu hướng đầu tư vào các startups có founders là phụ nữ.

- Quỹ cấu trúc (Structure-defined


funds): Các nhà đầu tư tài chính dựa trên trên doanh thu (Revenue-based finance) và các quỹ đầu tư mạo hiểm linh hoạt (Flexible VC) hiện đang sử dụng những phương tiện đầu tư thay thế (alternative VC) mà không phải là vốn cổ phần ưu đãi (preferred equity) thông thường hay trái phiếu chuyển đổi (convertible notes). Những quỹ này thường sẽ chỉ rõ họ chỉ đầu tư bằng phương thức đã nêu để tránh việc giải thích về mô hình củ


a mình cũng như tiếp xúc với những công ty không phù hợp.

- Quỹ tùy biến (Situation-defined funds): Một số quỹ tối ưu quyết định đầu tư vào trong những trường hợp nhất định. John Gannon, Founder của VC Careers và GoingVC, liệt kê những chiến lược đầu tư tùy biến như dưới đây:

  1. "Chúng ta đề


u là bạn": đầu tư vào công ty tốt nhất mà bạn biết, bất kể phần vốn rót từ bạn có ít tới đâu, và hi vọng có được đặc quyền đầu tư nhiều hơn vào những vòng sau.

  1. "Theo sau những General Partners": các LP cùng đầu tư một cách trực tiếp vào những vòng vốn chun